Giới thiệu Thượng viện Cộng hòa Séc - phần 1

Vị trí của Thượng viện của Cộng hòa Séc được quy định trong Hiến pháp của Cộng hòa Séc, được thông qua vào năm 1992. Thượng viện bao gồm 81 thượng nghị sĩ được bầu với nhiệm kỳ sáu năm.
Thượng viện là tổ chức không thể giải tán, một phần ba số thượng nghị sĩ sẽ được bầu hai năm một lần.
Bất kỳ cử tri nào đủ 40 tuổi ít nhất vào ngày thứ hai của cuộc bầu cử Thượng viện và không bị hạn chế trong việc thực hiện quyền bỏ phiếu của trong những ngày bầu cử đều có thể được bầu để trở thành thượng nghị sĩ.
Theo Đạo luật số 59/1996 Sb., trụ sở của Thượng viện là khu cung điện Valdštejnské cùng với khu vườn Valdštejnská, Valdštejnská jízdárna và cả cung điện Kolovratské và cung điện Little Fürstenberg.
Thượng viện trong các tổ chức nhà nước trước đây
Thời kỳ đế chế Áo-Hung
Thượng viện của cơ quan lập pháp Quốc hội của Hội đồng Hoàng gia Áo-Hung (Panská sněmovna rakousko-uherské Říšské rady)
Các thành viên của thượng viện là các thành viên cha truyền con nối (ví dụ: các chức sắc nhà thờ) và các thành viên được bổ nhiệm. Năm 1907, cuộc cải cách đã hạn chế số lượng thành viên được bổ nhiệm suốt đời và ấn định số lượng thành viên trong khoảng từ 150 đến 170 người. Ngoài các gia đình quý tộc Séc cha truyền con nối, có một số nhân vật quan trọng đã được bổ nhiệm vào Thượng viện, những người có đóng góp cho xã hội và nghệ thuật, trong số đó, ví dụ, Người Séc đầu tiên được bổ nhiệm là František Palacký.
Thời kỳ Cộng hòa Tiệp Khắc
Thượng viện của Cộng hòa Tiệp khắc (1918) là Thượng viện của Quốc hội Tiệp Khắc.
Sau khi thành lập Cộng hòa Tiệp Khắc, Hiến pháp đã được thông qua vào ngày 29 tháng 2 năm 1920 quy định Quốc hội lưỡng viện, cả theo truyền thống của đế chế Áo-Hung và cả theo mô hình của Pháp và Hoa Kỳ. Nó bao gồm Hạ viện với 300 thành viên và Thượng viện với 150 thành viên.
Cả hai viện đều được bầu theo đại diện tỷ lệ. Nhiệm kỳ Hạ viện là 6 năm, và nhiệm kỳ Thượng viện là 8 năm. Công dân trên 30 tuổi có thể trở thành nghị sĩ của Hạ viện và có thể được bầu vào Thượng viện thành Thượng nghị sĩ khi ngoài 45 tuổi. Cũng có 1 số yêu cầu về thời gian có quyền công dân của cử tri để trở thành Thượng nghị sĩ. Cuộc bầu cử đầu tiên vào Thượng viện được tổ chức vào tháng 5 năm 1920, ngay sau cuộc bầu cử đầu tiên vào Hạ viện. Do những thay đổi và lịch bầu cử diễn ra cùng lúc với lịch bầu cử vào Hạ viện, cùng với hệ thống tỷ lệ giống như nhau, dẫn đến việc thành phần các Đảng phái của Thượng viện phần lớn gần như sao chép thành phần của Hạ viện của Quốc hội, và chức năng “bảo đảm dân chủ” thực tế chỉ là hình thức

Cả hai viện do đó đã bị Tổng thống giải tán ngay sau khi Đức chiếm đóng Bohemia và Moravia.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, thể chế Thượng viện đã không còn ở Tiệp Khắc, mặc dù phe các đại biểu Quốc hội của Slovakia có mang một số đặc điểm nhất định của Thượng viện
Tuy nhiên, nhà nước này chỉ tồn tại cho đến năm 1948. Hiến pháp tháng 5/1948 đã quy định Quốc hội chỉ là đơn viện. Mặc dù Hội đồng Quốc gia Slovakia được bảo tồn, nhưng các Nghị quyết của nó vẫn bị giới hạn về mặt lãnh thổ (Slovakia) và theo chuyên đề dưới sự kiểm soát của Quốc hội và Chính phủ.
Thời kỳ Liên bang XHCN Tiệp Khắc
Thời Tiệp Khắc liên bang từ 1969 đến 1992 có Quốc hội Liên bang lưỡng viện. Theo Đạo luật Hiến pháp số 143/1968 Sb., về Liên bang Tiệp Khắc, Quốc hội liên bang bao gồm 2 viện: Viện nhân dân(Sněmovny lidu) và Viện Dân tộc (Sněmovny národů) mang bản chất của Thượng viện, dựa trên nguyên tắc vùng miền bình đẳng. Trong số 150 thành viên của Sněmovny národů, có 75 người được bầu ở Séc và 75 người ở Slovakia.
Tuy nhiên, ban đầu, “Thượng viện” (Sněmovna národů) chưa được bầu thông qua các cuộc bầu cử thông thường. Các đại biểu của Slovakia được Hội đồng Slovakia bầu chọn trong số các thành viên họ, và các đại biểu của Séc được bầu trong số Hội đồng Séc lâm thời mở rộng được thành lập trên cơ sở Đạo luật Hiến pháp số 77/1968 Sb., về Chuẩn bị của một Thể chế Liên bang của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Tiệp Khắc. Cuộc bầu cử định kỳ đầu tiên vào Quốc hội Liên bang đã không diễn ra cho đến ngày 26-27 tháng 11 năm 1971; sau đó được tổ chức 5 năm một lần. Chỉ sau tháng 11 năm 1989, một số đại biểu đã được thay thế bằng bầu cử thay vì bầu cử thông thường vì các thành viên của Quốc hội Liên bang Tiệp Khắc từ chức trong cuộc Cách mạng Nhung diễn ra hàng loạt từ tháng 12 năm 1989 đến tháng 2 năm 1990.
Việc tuyển chọn các đại biểu mới diễn ra từ ngày 28 tháng 12 năm 1989 đến ngày 27 tháng 2 năm 1990
Vị trí của Hạ viện trong Quốc hội Liên bang Tiệp Khắc mạnh hơn vị trí của Thượng viện trong Quốc hội thời Liên bang Tiệp khắc dù cả hai viện đều ó vị trí bình đẳng ngang nhau. Một nghị quyết hợp lệ và việc thông qua luật cần có sự đồng ý của đa số đại biểu đủ tư cách ở cả hai viện. Ngoài ra, việc cấm áp dụng quy tắc đa số trong quá trình bỏ phiếu chung của cả hai viện về một số luật và trong quá trình bỏ phiếu tín nhiệm đối với chính phủ, điều đó có nghĩa là thiểu số nghị sĩ Slovakia không thể bị đa số Séc bác bỏ và có thể cản trở giải quyết tranh chấp. Nếu hai viện bỏ phiếu khác nhau, họ có thể đồng ý về cái gọi là thủ tục hòa giải, khi một ủy ban hòa giải được thành lập, thường bao gồm 20 đại biểu (mười người cho mỗi viện). Nếu ngay cả ủy ban hòa giải cũng không đạt được thỏa thuận, tổng thống có thể giải tán Quốc hội Liên bang và triệu tập các cuộc bầu cử mới.
Tuy nhiên, trong các điều kiện bình thường hóa, trường hợp bất đồng như vậy trên thực tế không thể xảy ra và việc giải tán Quốc hội Liên bang thậm chí còn không xảy ra sau đó.
Hạ viện, giống như toàn bộ Hội đồng Liên bang, đã không còn tồn tại vào ngày 31 tháng 12 năm 1992.

Lịch sử của Thượng viện Séc
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Tiệp Khắc (1969–1990) và Cộng hòa Liên bang Séc và Slovak (1990–1992) có Hội đồng Quốc gia Séc đơn viện. Tuy nhiên, khi liên bang bị chia rẽ, một vấn đề nảy sinh với việc bố trí các đại biểu Séc của Quốc hội Liên bang không còn tồn tại.
Hiến pháp mới của Cộng hòa Séc, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1993, quy định Quốc hội lưỡng viện, bao gồm Hạ viện và Thượng viện. Cho đến khi thành lập, nó đã được dự định thành lập một Thượng viện lâm thời (Điều 106, khoản 2 của Hiến pháp), nhưng cuối cùng nó đã không được ban hành.
Giai đoạn 1996 đến 1998: Các đảng cầm quyền chiếm đa số theo hiến pháp trong cuộc bầu cử đầu tiên
Chủ tịch đầu tiên của Thượng viện Séc, cựu thủ tướng bất đồng chính kiến là Petr Pithart (KDU-ČSL)
Cuối cùng, cuộc bầu cử đầu tiên vào Thượng viện của Quốc hội Cộng hòa Séc chỉ được tổ chức vào mùa thu năm 1996. Vì đây là cuộc bầu cử đầu tiên vào Thượng viện, 1/3 đơn vị bầu cử đã bầu thượng nghị sĩ trong 2 năm, 1/3 bầu thượng nghị sĩ với nhiệm kỳ bốn năm và chỉ 1/3 bầu thượng nghị sĩ với nhiệm kỳ sáu năm do hiến pháp quy định. Bằng cách rút ngắn các nhiệm kỳ đầu tiên ở các khu vực thượng viện được chọn, Quy định của hiến pháp đã được thực hiện, theo đó các cuộc bầu cử vào Thượng viện được tổ chức 2 năm một lần và 1/3 số thượng viện được bầu (thời hạn của nhiệm kỳ là 6 năm).
Cuộc họp cấu thành đầu tiên của Thượng viện được tổ chức vào Thứ Tư, ngày 18 tháng 12 năm 1996, khi ban lãnh đạo của Thượng viện mới thành lập được bầu. Petr Pithart thuộc đảng KDU-ČSL trở thành chủ tịch đầu tiên của Thượng viện.
Các ứng cử viên của ODS cầm quyền (32 thượng nghị sĩ) đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử đầu tiên và cùng với câu lạc bộ thượng nghị sĩ KDU-ČSL (13 thượng nghị sĩ) và câu lạc bộ ODA (7 thượng nghị sĩ) đã giành được đa số hiến pháp gồm 52 thượng nghị sĩ ở thượng viện của quốc hội. Liên minh ủng hộ chính phủ này kéo dài cho đến khi chính phủ của Václav Klaus sụp đổ vào đầu năm 1997 và 1998.
Biên dịch: Ing. Doãn Dân – Tamda Media
Nguồn: https://cs.wikipedia.org/wiki/Sen%C3%A1t_Parlamentu_%C4%8Cesk%C3%A9_republiky











