Chứng từ về có chỗ ở (Giấy nhà) - Phần 1

1- Giấy quyền sở hữu nhà
Giấy hợp lệ là Bản gốc hoặc bản sao có công chứng Trích lục sở hữu bất động sản hoặc Hợp đồng mua bán bất động sản với điều khoản về chuyển quyền sở hữu nộp lên sở địa chính. Cơ quan quản lý cũng chấp nhận Trích lục từ internet (có thể truy cập công khai của địa chính bất động sản, hoặc một Cam đoan về sở hữu tài sản với địa chỉ đầy đủ số bưu điện (PSČ) thành phố, quận, huyện số mô tả hoặc số đăng ký nhà, trường hợp là căn hộ phải có số căn hộ ghi trong Sổ đăng ký bất động sản; tuy nhiên, nếu không thể xác minh quyền sở hữu bất động sản dựa trên các tài liệu này, cơ quan quản lý sẽ yêu cầu người nước ngoài giấy tờ như nêu trên
Nếu người yêu cầu là đồng sở hữu bất động sản, hoặc là chủ sở hữu bất động sản trong khối tài sản chung của vợ, chồng thì không cần sự đồng ý của những đồng sở hữu bất động sản còn lại hoặc của vợ, chồng.
Nếu người nước ngoài chứng minh được vợ hoặc chồng là chủ sở hữu đối với bất động sản không thuộc sở hữu chung của vợ và chồng và nếu vợ hoặc chồng có nhà ở chung (nhà ở) ở bất động sản này thì không cần xác nhận đồng ý của vợ hoặc chồng của người nước ngoài về chỗ ở của mình. Tương tự đối với trường hợp người nộp đơn là trẻ em sống cùng cha hoặc mẹ là chủ sở hữu tài sản, chỉ cần chứng minh quyền sở hữu tài sản của cha hoặc mẹ là đủ, không cần thêm bất kỳ giấy tờ nào (ví dụ: xác nhận về sự đồng ý của cha mẹ đứa trẻ đối với chỗ ở của họ)
2 – Chứng từ có chỗ ở
Bản gốc hoặc bản sao có công chứng Hợp đồng cho thuê, Hợp đồng cho thuê lại, Hợp đồng bố trí chỗ ở hoặc Thỏa thuận có nội dung tương tự.
Điều kiện là hiệu lực của hợp đồng (ví dụ: trong trường Hợp hợp đồng có thời hạn, phải nộp Phụ lục đã gia hạn hợp đồng).
Nếu giấy nhà là Hợp đồng thuê lại giữa Người nộp đơn và Người thuê nhà theo quy định § 2274 đến 2278 của Bộ luật Dân, thì cần phải có cả Hợp đồng thuê nhà giữa chủ nhà và người thuê. Người nộp đơn có Hợp đồng thuê lại cũng phải nộp cùng Hợp đồng thuê). Tuy nhiên, không còn nhất thiết phải được sự đồng ý của chủ nhà đối với việc ký kết hợp đồng cho thuê lại.

Các hợp đồng thuê hay thuê lại ký không cần phải công chứng
Nếu người nộp đơn nộp Hợp đồng thuê nhà, mà không phải là người thuê nhưng trong hợp đồng ghi rõ sống cùng trong gia đình của người thuê nhà, thì giấy nhà này cũng được coi là hợp lệ mà không cần sự đồng ý thêm của chủ nhà để cho người này ở cùng trong căn hộ .
Nếu người nộp đơn có Hợp đồng đồng thuê nhà trong đó người thuê nhà là vợ/chồng hoặc cha mẹ của người đó, nếu người nộp đơn là trẻ vị thành niên thì không cần thêm giấy tờ nào khác và chỉ cần hợp đồng thuê nhà là đủ, ngay cả khi người nộp đơn không được ghi trong Hợp đồng. Cũng không còn cần xác nhận của vợ/chồng, hoặc cha mẹ của người nước ngoài chưa thành niên đồng ý cho ở hoặc người cho thuê đồng ý cho người nộp đơn này ở.
Nếu người nộp đơn là người được gọi là người thuê chung, tức là hợp đồng thuê được gọi là hợp đồng thuê chung theo nghĩa của § 2270 của Bộ luật Dân sự, thì người nộp đơn không cần sự đồng ý của những người thuê chung. Quyền thuê nhà (và quyền sử dụng căn hộ liên quan) được chứng minh bằng hợp đồng thuê nhà.
Xác nhận của chủ sở hữu hoặc người có quyền sử dụng nhà đồng ý cho người nước ngoài ở
Văn bản xác nhận của chủ sở hữu hoặc người có quyền sử dụng nhà phải ký có công chứng, nếu không có phải ký trước mặt nhân viên của Cục Chính sách Tị nạn và Di trú của Bộ Nội vụ Cộng hòa Séc .
Văn bản xác nhận của chủ sở hữu hoặc người có quyền sử dụng nhà không cần công chứng, nếu đó là yêu cầu cấp giấy chứng nhận đăng ký công dân EU hoặc cấp giấy chứng nhận ở tạm thời cho một thành viên gia đình của một công dân EU.

Hết phần 1
Biên dịch : ing. Doãn Dân – Tamda Media











